Trước khi bắt đầu
Đây là bài cuối Chương III. Em đã dùng nhiều "điều đúng" như kề bù, đối đỉnh, tính chất song song. Bài này giải thích chúng là gì (định lí), cách viết giả thiết – kết luận và cách chứng minh một định lí. Đây là kĩ năng dùng trong mọi bài hình từ nay trở đi. Sau bài này em làm được 4 việc:
- Viết một định lí dưới dạng "Nếu … thì …", tách giả thiết (GT) và kết luận (KL).
- Vẽ hình và ghi GT, KL bằng kí hiệu.
- Chọn đúng lý do cho từng bước của một chứng minh; phát hiện bước sai.
- Dùng phản ví dụ để chỉ ra một khẳng định là sai; phát biểu định lí đảo.
Các bài ôn tập cả Chương III luyện ở bài "Các dạng bài và ví dụ" (Dạng 4, Dạng 5). Nhãn: Lớp 7 là kiến thức trong sách; Nâng cao là mở rộng ngoài sách, hay gặp trong đề trường chuyên.
Nhớ lại các bài trước
Các điều đã biết, dùng làm lý do Lớp 7 · Bài 8–10
| Lý do | Cho phép viết |
|---|---|
| Hai góc kề bù | Tổng hai góc bằng \(180^\circ\) |
| Hai góc đối đỉnh | Hai góc bằng nhau |
| Tia nằm giữa hai tia | Cộng (trừ) hai góc |
| Tia phân giác | Hai góc bằng nhau, mỗi góc bằng nửa góc lớn |
| Dấu hiệu nhận biết (Bài 9) | So le trong hoặc đồng vị bằng nhau thì hai đường thẳng song song |
| Tiên đề Euclid, tính chất (Bài 10) | Hai đường thẳng song song thì so le trong, đồng vị bằng nhau; trong cùng phía bù nhau |
1Định lí. Giả thiết và kết luận Lớp 7
Định lí
Định lí là một khẳng định được suy ra từ những khẳng định được coi là đúng.
Định lí thường phát biểu dưới dạng "Nếu … thì …":
- Phần giữa "Nếu" và "thì" là giả thiết (GT): điều đã cho.
- Phần sau "thì" là kết luận (KL): điều phải chứng minh.
Ba việc khi gặp một định lí
- Viết lại dưới dạng "Nếu … thì …" (thêm chữ "nếu", "thì" khi đề không có).
- Vẽ hình, đặt tên điểm, tên góc.
- Ghi GT, KL bằng kí hiệu theo tên trên hình.
Ví dụ
"Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau." Viết lại: "Nếu hai góc đối đỉnh thì hai góc đó bằng nhau" (Hình 1).
| GT | \(\widehat{O_1}\) và \(\widehat{O_3}\) là hai góc đối đỉnh |
| KL | \(\widehat{O_1} = \widehat{O_3}\) |
Ví dụ tự kiểm tra: "Hai đường thẳng phân biệt cùng song song với đường thẳng thứ ba thì song song với nhau." GT: \(a \parallel c\), \(b \parallel c\) (a, b phân biệt); KL: \(a \parallel b\).
Định lí "Hai góc kề bù có tổng \(180^\circ\)": GT là \(\widehat{A} + \widehat{B} = 180^\circ\).
Viết lại: "Nếu hai góc kề bù thì tổng của chúng bằng \(180^\circ\)". GT: \(\widehat{A}\), \(\widehat{B}\) kề bù; KL: \(\widehat{A} + \widehat{B} = 180^\circ\). Điều cần chứng minh nằm ở KL.
Ghi nhớ
NẾU → GIẢ THIẾT (ĐÃ CHO) · THÌ → KẾT LUẬN (PHẢI CHỨNG MINH)
2Chứng minh định lí Lớp 7
Chứng minh
Chứng minh định lí là dùng lập luận để từ giả thiết và những khẳng định đúng đã biết suy ra kết luận.
Mỗi bước có dạng khẳng định (lý do). Lý do chỉ được là một trong các loại sau:
- giả thiết của định lí;
- một định nghĩa, tiên đề, tính chất hoặc định lí đã học;
- kết quả của một bước trước đó.
Cách tìm đường chứng minh
Đi ngược từ kết luận: "muốn có KL thì cần gì?", hỏi tiếp cho tới khi gặp điều có trong GT. Sau đó viết xuôi từ GT tới KL.
Chứng minh "Nếu \(a \parallel b\) và \(c \perp a\) thì \(c \perp b\)": hiểu từng bước
- Bước 1
Vẽ hình, ghi GT, KL. GT: \(a \parallel b\), \(c \perp a\) tại A.
KL: \(c \perp b\) (Hình 2).
- Bước 2
Đi ngược từ KL. Muốn \(c \perp b\) thì cần c cắt b và tạo với b một góc \(90^\circ\).
Góc \(90^\circ\) đã có ở A
\(a \parallel b\) sẽ "chuyển" góc đó xuống b.
- Bước 3
Viết xuôi, bước thứ nhất. c cắt a tại A, mà \(a \parallel b\), nên c cắt b tại một điểm B (hệ quả của tiên đề Euclid).
- Bước 4
Bước thứ hai. \(\widehat{B_1} = \widehat{A_1} = 90^\circ\) (\(a \parallel b\), hai góc đồng vị).
- Bước 5
Kết luận. c tạo với b một góc vuông, nên \(c \perp b\) (định nghĩa hai đường thẳng vuông góc).
Dùng chính kết luận làm lý do: "\(c \perp b\) nên góc đồng vị bằng \(90^\circ\), vậy \(c \perp b\)".
Lý do phải đến từ GT hoặc điều đã biết. Dùng KL làm lý do là lập luận vòng: chưa chứng minh được gì.
Viết "\(\widehat{B_1} = 90^\circ\)" trước, rồi mới viết "c cắt b tại B".
Phải có điểm B rồi mới nói tới góc đỉnh B. Mỗi bước chỉ được dùng GT và các bước đứng trước nó.
Thử thấy định lí đúng với hình vẽ của mình (hoặc đo bằng thước đo góc), kết luận định lí đúng.
Một hình đúng, một lần đo chưa chứng minh được gì; phải lập luận để đúng với mọi trường hợp. Thử bằng số chỉ dùng để kiểm tra lại.
Ghi nhớ
MỖI BƯỚC = KHẲNG ĐỊNH + LÝ DO · LÝ DO: GT, ĐIỀU ĐÃ HỌC, BƯỚC TRƯỚC · KHÔNG DÙNG KL LÀM LÝ DO
3Phản ví dụ và định lí đảo Nâng cao
Phản ví dụ
Muốn chứng tỏ khẳng định "Nếu P thì Q" là sai, chỉ cần chỉ ra một trường hợp:
- có P (thỏa mãn giả thiết),
- mà không có Q (không thỏa mãn kết luận).
Trường hợp đó gọi là một phản ví dụ.
Ví dụ
"Nếu hai góc bằng nhau thì chúng đối đỉnh" là sai. Phản ví dụ: tia Oz là tia phân giác của \(\widehat{xOy} = 80^\circ\). Khi đó \(\widehat{xOz} = \widehat{zOy} = 40^\circ\) (có P), nhưng hai góc này chung cạnh Oz nên không đối đỉnh (không có Q) (Hình 3).
Lấy hai góc \(30^\circ\) và \(60^\circ\) không đối đỉnh làm phản ví dụ cho "Nếu hai góc bằng nhau thì chúng đối đỉnh".
Hai góc đó không bằng nhau, tức không thỏa mãn giả thiết, nên không nói được gì về khẳng định. Phản ví dụ phải là hai góc bằng nhau mà không đối đỉnh.
Định lí đảo
Đổi chỗ giả thiết và kết luận của một định lí, ta được một khẳng định mới. Nếu khẳng định mới cũng đúng thì nó gọi là định lí đảo của định lí ban đầu.
| Định lí | Đổi chỗ GT và KL | Đúng hay sai |
|---|---|---|
| Hai đường thẳng song song thì hai góc so le trong bằng nhau | Hai góc so le trong bằng nhau thì hai đường thẳng song song | Đúng (dấu hiệu nhận biết, Bài 9) |
| Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau | Hai góc bằng nhau thì đối đỉnh | Sai (phản ví dụ ở Hình 3) |
Vậy một định lí đúng chưa chắc có định lí đảo: phải xét lại từ đầu.
Đảo của "song song thì so le trong bằng nhau" là "không song song thì so le trong không bằng nhau".
Đó là phủ định cả hai vế, không phải đảo. Đảo là đổi chỗ GT và KL: "so le trong bằng nhau thì song song".
Ghi nhớ
PHẢN VÍ DỤ: CÓ GT, KHÔNG CÓ KL · ĐẢO: ĐỔI CHỖ GT VÀ KL, PHẢI XÉT LẠI ĐÚNG – SAI
🎯 Cách trình bày thường được yêu cầu ở trường chuyên
Đề cương của trường chuyên Trần Đại Nghĩa ghi chú "chú trọng viết GT – KL". Bài hình thường làm theo ba bước: vẽ hình → ghi GT, KL bằng kí hiệu → chứng minh từng bước có lý do. Chương IV (tam giác bằng nhau) dùng đúng cấu trúc này.
Tổng kết
Sáu điều cần nhớ
- Định lí: khẳng định suy ra từ những khẳng định được coi là đúng; viết được dạng "Nếu GT thì KL".
- Gặp định lí: viết lại "Nếu … thì …", vẽ hình, ghi GT và KL bằng kí hiệu.
- Chứng minh: từ GT, qua các điều đã biết, suy ra KL; mỗi bước một lý do.
- Không dùng KL làm lý do; không đảo thứ tự bước; không thay chứng minh bằng "nhìn hình" hay đo.
- Một phản ví dụ (có GT, không có KL) đủ để bác bỏ một khẳng định.
- Đổi chỗ GT và KL được khẳng định đảo; nó có thể đúng hoặc sai.
Định lí khác tiên đề thế nào?
Tiên đề được thừa nhận, không chứng minh (như tiên đề Euclid). Định lí phải chứng minh được từ tiên đề và các định lí trước đó (như tính chất hai đường thẳng song song).
Có cần ghi GT, KL cả khi đề cho sẵn hình?
Nên ghi. GT, KL giúp em biết mình có gì và cần đi tới đâu. Ở bài yêu cầu "vẽ hình, ghi GT, KL và chứng minh", phần ghi GT – KL thường được tính điểm riêng.
Một định lí có thể có nhiều cách chứng minh không?
Có. Ví dụ tính góc gãy khúc có thể kẻ tia song song về một phía hoặc phía ngược lại. Cách nào cũng được, miễn mỗi bước có lý do đúng.
HomeStudy